xe đua f1 vô địch thế giới
Xe đua F1

Những xe đua F1 vô địch thế giới trong lịch sử công thức 1

Giải đua xe Công thức 1 thế giới diễn ra lần đầu vào năm 1950. Qua nhiều năm diễn ra liên tục, từ ngôi quán quân đầu tiên của Giuseppe Farina, cho đến Michael Schumacher và Lewis Hamilton, đã có hàng chục tay đua giành được chiếc cúp danh giá này. Dưới đây là những mẫu xe F1 đã mang lại vinh quang cho các đội đua.

1950: Xe đua F1 – Alfa Romeo Tipo 158

1950: Xe đua F1 - Alfa Romeo Tipo 158
1950: Xe đua F1 – Alfa Romeo Tipo 158

Giuseppe Farina là nhà vô địch F1 đầu tiên của thế giới, ông đã làm rạng danh đội đua Alfa Romeo. Khung xe được chế tạo bởi xà hình ống, thùng bằng nhôm. Động cơ 8 xi-lanh xếp hình chữ I, dung tích 1.479 cc, cấp nhiên liệu bằng áp lực. Chiếc xe nặng 700 kg này có công suất 350 mã lực, với hộp số 4 cấp nó đạt tốc độ tối đa 290 km/h.

1951: Xe đua F1 – Alfa Romeo Tipo 159

1951: Xe đua F1 - Alfa Romeo Tipo 159
1951: Xe đua F1 – Alfa Romeo Tipo 159

Đây cũng là năm Juan Manuel Fangio – huyền thoại người Argentina – giành được chức vô địch thế giới thứ nhất trong năm lần đăng quang của mình.Khung xe chế tạo từ ống kim loại, thùng bằng nhôm. Động cơ dạng I với 8 xi-lanh có tổng dung tích 1.479 cc, cấp nhiên liệu bằng hơi nén. Chiếc F1 nặng 710 kg này có công suất 425 mã lực, với hộp số 4 cấp nó đạt tốc độ tối đa 305 km/h.

1952 và 1953: Xe đua F1 – Ferrari 500 F2

1952 và 1953: Xe đua F1 - Ferrari 500 F2
1952 và 1953: Xe đua F1 – Ferrari 500 F2

Alberto Ascari là người đầu tiên thổi bùng tên tuổi hãng sản xuất xe hơi Ferrari, ông giữ chức vô địch 2 năm liền với cùng một mẫu xe 500 F2. 4 năm liên tiếp, chiếc cúp F1 ở lại Italy. Khung xe chế tạo từ thép ống, thùng bằng nhôm. Động cơ Ferrari 4 xi-lanh, dung tích 1.985 cc, sử dụng hai bộ chế hoà khí Weber, công suất 175 mã lực. Với hộp số 4 cấp, chiếc F1 nặng 560 kg này đạt tốc độ tối đa 250 km/h.

1954: Xe đua F1 – Mercedes W196 và Maserati 250F

1954: Xe đua F1 - Mercedes W196
1954: Xe đua F1 – Mercedes W196

Juan Manuel Fangio bắt đầu chuỗi thành tích 4 lần vô địch F1 liên tiếp của mình trên hai chiếc xe: Mercedes và Maserati. Chiếc xe đua F1 Mercedes W196 có thùng xe bằng nhôm dựa trên khung kim loại hình ống. Động cơ dạng I với 8 xi-lanh tổng dung tích 2.496 cc, phun nhiên liệu trực tiếp, công suất 280 mã lực. Với hộp số 4 cấp chiếc xe nặng 720 kg này đạt tốc độ tối đa 290 km/h.

1954: Xe đua F1 - Maserati 250F
1954: Xe đua F1 – Maserati 250F

Masserati 250 F có thùng bằng nhôm và khung hình ống. Xe được lắp động cơ 6 xi-lanh thẳng hàng, dung tích 2.494 cc, sử dụng 3 bộ chế hoà khí Weber DC. Với công suất 270 mã lực và hộp số 4 cấp, mẫu xe nặng 670 kg này đạt tốc độ tối đa 290 km/h.

1955: Xe đua F1 – Mercedes W196

Năm 1955, Juan Manuel Fangio vô địch thế giới cùng chiếc Mercedes W196. Không ai ngờ rằng, sau lần đăng quang này đội Mercedes sẽ phải đợi 43 năm sau, đến giải F1 1998, mới lại vươn lên đỉnh cao tốc độ một lần nữa.Thùng xe chế tạo bằng nhôm với bộ khung dựng từ ống kim loại. Xe lắp động cơ 8 xi-lanh thẳng hàng, dung tích 2.496 cc, phun xăng trực tiếp. Với công suất 280 mã lực và hộp số 5 cấp, chiếc Mercedes W196 nặng 720 kg có thể chạy tối đa 290 km/h.

1956: Xe đua F1 – Ferrari Lancia D50

1956: Xe đua F1 - Ferrari Lancia D50
1956: Xe đua F1 – Ferrari Lancia D50

Chiếc Lancia giúp Juan Manuel Fangio lần thứ tư vô địch F1 có khung bằng ống kim loại, thùng nhôm. Ferrari đi tiên phong với việc lắp động cơ dạng V, 8 xi-lanh tổng dung tích 2.488 cc được xếp thành 2 hàng nghiêng 90 độ. Xe có 4 bộ chế hoà khí Solex và hộp số 5 cấp. Với công suất 250 mã lực và nặng 640 kg, nó đạt tốc độ tối đa 280 km/h.

1957: Xe đua F1 – Maserati 250F

1957: Xe đua F1 - Maserati 250F
1957: Xe đua F1 – Maserati 250F

Đây là lần thứ 5 Juan Manuel Fangio giành danh hiệu vô địch thế giới, trong đó có 4 lần liên tiếp (1954-1957). Phải đợi tới năm 2002, mới có Michael Schumacher đạt được kỷ lục này.Xe có thùng nhôm với khung bằng các ống kim loại. Động cơ 6 xi-lanh thẳng hàng, dung tích 2.494 cc, sử dụng 3 bộ chế hoà khí Weber DC. Với hộp số 5 cấp và công suất 240-270 mã lực, chiếc xe nặng 670 kg này đạt vận tốc tối đa 290 km/h.

1958: Xe đua F1 – Ferrari 246

1958: Xe đua F1 - Ferrari 246
1958: Xe đua F1 – Ferrari 246

Mike Hawthorn, với chiếc mũ bảo hiểm nổi tiếng có lưỡi trai rộng, đã tiếp bước bậc tiền bối Fangio sau vô-lăng xe Ferrari. Khung xe dựng bằng các ống kim loại, thùng nhôm. Động cơ dạng V với 6 xi-lanh tổng dung tích 2.417 cc xếp thành 2 hàng nghiêng với góc 65 độ. Ferrari 246 lắp hai bộ chế hoà khí và hộp số 5 cấp. Chiếc xe công suất 280 mã lực, nặng 460 kg này có thể chạy tối đa 280 km/h.

1959: Xe đua F1 – Cooper Climax T51

1959: Xe đua F1 - Cooper Climax T51
1959: Xe đua F1 – Cooper Climax T51

Jack Brabham, lái chiếc xe Cooper với động cơ Climax đặt ở phía sau, đã hạ bệ đội Ferrari.Khung xe dựng bằng các ống kim loại, thùng nhôm. Động cơ Coventry -Climax với 4 xi-lanh tổng dung tích 2.495 cc được bố trí ở phía sau và sử dụng hai bộ chế hoà khí Weber. Thông qua hộp số 5 cấp, cỗ máy 240 mã lực đẩy chiếc xe nặng 460 kg này chạy tối đa 280 km/h.

1960: Xe đua F1 – Cooper Climax T53

1960: Xe đua F1 - Cooper Climax T53
1960: Xe đua F1 – Cooper Climax T53

Năm 1960, tay đua người Australia Jack Brabham tiếp tục giữ chức vô địch thế giới với chiếc Cooper T53 lắp động cơ Coventry-Climax 4 xi-lanh 2.495 cc. Với khung bằng ống kim loại, công suất 240 mã lực và nặng 435 kg, xe có thể chạy tối đa 285 km/h.

1961: Xe đua F1 – Ferrari 156 F1

1961: Xe đua F1 - Ferrari 156 F1
1961: Xe đua F1 – Ferrari 156 F1

Phil Hill là tay đua quốc tịch Mỹ đầu tiên giành chức vô địch F1, anh điều khiển một chiếc Ferrari “mũi cá mập”. Với khung dựng bằng các ống kim loại, chiếc xe được lắp động cơ V6 dung tích 2.417 cc, góc chữ V bằng 65 độ. Với 3 bộ chế hoà khí Weber DC và hộp số 4 cấp, chiếc xe nặng 560 kg và có công suất 250 mã lực này đạt tốc độ tối đa 270 km/h.

1962: Xe đua F1 – BRM P57

1962: Xe đua F1 - BRM P57
1962: Xe đua F1 – BRM P57

Thêm một Hill khác thành công, Graham Hill. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng BRM đoạt được vòng nguyệt quế. Chiếc xe có khung bằng ống kim loại này lắp động cơ V8 – 90 độ, dung tích 1.498 cc, phun nhiên liệu trực tiếp. Có công suất 192 mã lực và chỉ nặng 450 kg, chiếc BRM P57 đạt tốc độ tối đa 280 km/h.

1963: Xe đua F1 – Lotus 25

1963: Xe đua F1 - Lotus 25
1963: Xe đua F1 – Lotus 25

Tài năng của Jim Clark đã phát huy mạnh mẽ khi kết hợp với Lotus Climax 25 – chiếc xe được giới chuyên môn thời đó nhận định là một thiết kế hoàn hảo. Xe có cấu trúc vỏ kim loại liền, lắp động cơ V8 Conventry Climax dung tích 1.495 cc và hộp số Hewland 5 cấp. Với công suất 198 mã lực, chiếc xe nặng 455 kg này có thể chạy tối đa 270 km/h.

1964: xe đua Ferrari 158 F1 

1964: xe đua Ferrari 158 F1
1964: xe đua Ferrari 158 F1

Nhờ tay đua John Surtees mà đội Ferrari lần thứ 5 vô địch thế giới, bất chấp áp lực mạnh mẽ từ phía Lotus.Nửa trên thùng xe là vỏ kim loại liền. Chiếc Ferrari này được lắp động cơ V8 – 90 độ, tổng dung tích 1.487 cc và sử dụng bộ phun nhiên liệu Bosch. Với hộp số 5 cấp, chiếc xe công suất 210 mã lực và nặng 460 kg này chạy tối đa 260 km/h.

1965: Xe đua F1 – Lotus Type 33

1965: Xe đua F1 - Lotus Type 33
1965: Xe đua F1 – Lotus Type 33

Năm 1965, với chiếc Lotus Type 33, Jim Clark lại giành ngôi quán quân thế giới. Xe có vỏ kim loại liền, lắp động cơ 1.497 cc Coventry Climax V8 – 90 độ, 32 van. Với công suất 215 mã lực, chiếc xe nặng 450 kg này đạt tốc độ tối đa 290km/h.

1966: Xe đua F1 – Brabham BT 19

Jack Brabham đoạt danh hiệu vô địch thế giới lần thứ 3 (2 lần trước vào các năm 1960-1961). Đặc biệt, lần này ông đua bằng xe của riêng mình – chiếc Brabham-Repco. Xe của Brabham có nửa thùng phía trên bằng kim loại liền, được trang bị động cơ Repco V8 – 90 độ, dung tích 2.995 cc. Xe nặng 515 kg và có công suất 300 mã lực, thông qua hộp số 5 cấp, nó đạt tốc độ tối đa 290 km/h.

1967: Xe đua F1 – Brabham BT 24

1967: Xe đua F1 - Brabham BT 24
1967: Xe đua F1 – Brabham BT 24

Tay đua Denis Hulme đã làm rạng danh tên tuổi Brabham thêm một lần nữa khi cùng chiếc xe mang tên ông giành chức vô địch thế giới.Về thiết kế bên ngoài cũng như cấu tạo máy móc, BT 24 không khác biệt nhiều so với chiếc BT 19 – xe vô địch năm trước. Điểm mới là động cơ xe có 4 xu-páp mỗi xi-lanh, công suất mạnh hơn trước 60 mã lực.

1968: Xe đua F1 – Lotus Type 49

Graham Hill đã chiến thắng bằng xe Lotus Ford. Cũng trong mùa giải này, tại Grand Prix Đức, xảy ra một sự kiện chấn động là cái chết của tay đua Jim Clark lừng danh. Lần này Lotus chuyển sang hợp tác với hãng Ford Cosworth. Type 49 lắp động cơ V8 – 90 độ dung tích 2.993 cc, phun nhiên liệu gián tiếp. Xe trang bị hộp số 5 cấp, có công suất 410 mã lực và nặng 520 kg.

1969: Xe đua F1 – Matra MS80

Tay đua Jackie Stewart giành chiến thắng về cho đội đua do Ken Tyrrell – một dân chơi ngông ở Paris – thành lập. Matra MS80 là mẫu xe kết hợp khung của Matra và động cơ V8 Ford Cosworth DFV 2.993 cc, phun nhiên liệu gián tiếp. Xe có vỏ bằng kim loại liền, công suất 430 mã lực, hộp số 5 cấp và nặng 600 kg.

1970: Xe đua F1 – Lotus Type 72

Mùa giải 1970 xảy ra sự kiện hy hữu là chức vô địch được trao cho Jochen Rindt, dù anh đã qua đời trước đó (tháng 9) trong tai nạn trên đường đua Imola (San Marino, Italy). Rindt lái chiếc Lotus Type 72, 435 mã lực nặng 530 kg, xe lắp động cơ Ford Cosworth DFV 8 xi-lanh 32 van.

1971: Tyrrell Ford Cosworth 003

Xe vẫn được lắp động cơ của Ford Cosworth, tên tuổi của nhà sản xuất này được lưu lại trong trang vàng F1 nhờ sự xuất sắc của tay đua Jackie Stewart.Xe được chế tạo với cấu trúc vỏ cứng liền. Giống như chiếc Lotus, nó được trang bị động cơ Ford Cosworth DFV V8, dung tích 2.993 cc, phun nhiên liệu gián tiếp. Tyrrell Type 003 có công suất 440 mã lực.

1972: Xe đua F1 – Lotus 72D

Chiếc xe này đã giúp tay đua Emerson Fittipaldi bước lên bục chiến thắng khi mới 26 tuổi. Anh trở thành người vô địch F1 trẻ nhất thế giới cho đến lúc đó. Lotus tiếp tục sử dụng động cơ Ford Cosworth DFV. Ngoài một vài thay đổi nhỏ ở các cánh gió, về cơ bản, đội vẫn sử dụng cấu trúc của các đời xe trước. Type 72 D có hộp số 5 cấp và nặng 550 kg.

1973: Xe đua F1 – Tyrrell 005/006

Tyrrell 005/006

Jackie Stewart lần thứ 3 vô địch thế giới (2 lần trước vào 1969 và 1971) nhờ tận dụng được sự cạnh tranh của hai tay đua đội Lotus.Đội đua Tyrrell của Pháp một lần nữa giành chiến thắng với sự hợp tác của J.Stewart. Xe lắp động cơ Ford Cosworth đang thống trị các đường đua với công suất 460 mã lực, dung tích 2.993 cc.

1974: Xe đua F1 – McLaren M23

McLaren M23

Chức vô địch thế giới thứ 2 của Emerson Fittipaldi khi anh mới 28 tuổi, nhưng vinh quang không thuộc về đội Lotus. Emerson Fittipaldi đã rời đội Lotus và lần này anh giành chiến thắng trong sắc áo đội McLaren (Anh). Thêm một mùa giải nữa, chiếc xe vô địch được trang bị động cơ công suất 460 mã lực của Ford.

1975: Xe đua F1 – Ferrari 312T

Ferrari 312T

Sau 11 năm, mới lại có một tay đua trở thành quán quân thế giới trên một chiếc Ferrari. Niki Lauda là nhân vật nổi bật nhất tại các đường đua F1 vào năm 1975. Khi đó, tay đua người Áo điều khiển chiếc Ferrari Type 312T, động cơ V12, có dung tích 2.991 cc, công suất 520 mã lực và nặng 650 kg.

1976: McLaren M23

Chỉ đến grand prix cuối cùng mùa giải 1976, James Hunt mới giành chiến thắng trước Niki Lauda, người vẫn tiếp tục đua dù trước đó đã bị thương nặng sau tai nạn tại đường đua Nurburging. Hunt lái xe McLaren trang bị động cơ Ford DFV 8 xi-lanh, tổng dung tích 2.993 cc. 

1977: Xe đua F1 – Ferrari 312T2

Ferrari 312T2 1977

Niki Lauda, vẫn trên chiếc xe Ferrari, phục thù ngoạn mục vào năm 1977. Tuy nhiên, cũng năm đó, Lauda đã rời đội đua Italy chuyển sang làm thành viên của Brabham. Ferrari tiếp tục trung thành với động cơ V12, 48 van, có tổng dung tích 2.992 cc, nhiên liệu phun gián tiếp. Xe đạt công suất 500 mã lực ở mức 12.000 vòng/phút, tốc độ tối đa lên tới 290 km/h. Type 312T2 trang bị hộp số 5 cấp, nặng 590 kg.

1978: Xe đua F1 – Lotus 79

Niềm vui trộn lẫn nỗi buồn dành cho Mario Andretti. Anh chiến thắng nhưng vĩnh viễn mất đi người bạn – đồng đội Ronnie Peterson sau một tai nạn trên đường đua. Chiếc Lotus “Wing-car” của Andretti lắp động cơ Ford DFV, dung tích 2.993 cc, công suất 490 mã lực ở 11.000 vòng/phút.

Lotus 79

1979: Xe đua F1 – Ferrari 312T4

Ferrari 312T4

Sau khi đoạt danh hiệu cùng Jody Scheckter năm 1979, Ferrari phải chờ 21 năm sau mới lại vươn tới đỉnh cao thế giới (Michael Schumacher vào năm 2000). Chiếc Type 312T4 mang động cơ Ferrari 12, dung tích 2.991 cc, đạt công suất 510 mã lực ở 12.000 vòng/phút.

1980: Xe đua F1 – Williams FW07B

Williams FW07B

1980 là năm đáng nhớ của đội đua Williams, lần đầu tiên họ giành danh hiệu vô địch thế giới. Người mang lại vinh quang này Alan Jones, người con của xứ sở kanguru, còn chiếc xe vô địch là sự kết hợp giữa khung xe được thiết kế bởi các kỹ sư Williams và động cơ Ford.

1981: Xe đua F1 – Brabham BT49C

Nelson Piquet là người chiến thắng với chiếc Brabham có thùng làm bằng composite. Xe trang bị động cơ Ford Cosworth V8, dung tích 2.993 cc, đạt công suất 470 mã lực ở 11.100 vòng/phút, tốc độ tối đa 330 km/h. Tuỳ thuộc vào đường đua mà xe lắp hộp số 5 hoặc 6 cấp.

Brabham BT49C
Brabham BT49C

1982: Xe đua F1 – Williams FW08

Keke Rosberg (FIN) Williams FW08 finished second. Austrian Grand Prix, Osterriechring, 15 August 1982.

Chiến thắng của Keke Rosberg, đội Williams, đã phá hỏng một năm thi đấu tuyệt vời của Ferrari. Chiếc FW08 được trang bị động cơ Ford DFV, có công suất 480 mã lực ở 11.100 vòng/phút. Xe có cấu tạo vỏ cứng liền, thùng làm bằng vật liệu composite, nặng 580 kg.

1983: Xe đua F1 – Brabham BT52

Nelson Piquet là tay đua đầu tiên chiến thắng với 1 chiếc xe lắp động cơ turbo. “Trái tim” M12/13 do hãng cơ BMW chế tạo có 4 xi-lanh thẳng hàng, dung tích 1.500 cc, máy nén nhiên liệu turbo KKK, và đạt công suất 640 mã lực ở 11.000 vòng/phút. BT52 đạt tốc độ tối đa là 340 km/h.

Brabham BT52

1984: Xe đua F1 – McLaren MP4/2

Niki Lauda trở lại với ngôi vị số một. Đối thủ bám sát anh là một gương mặt sẽ thống trị làng đua xe tốc độ những năm về sau, tay đua người Pháp Alain Prost. MP4/2 là chiếc xe trang bị động cơ turbo TAG P01 của hãng Porsche, gồm 6 xi-lanh xếp hình chữ V, dung tích 1.500 cc, 2 máy nén nhiên liệu turbo KKK, đạt công suất cực đại 750 mã lực ở 11.500 vòng/phút. Nhờ vậy, khối lượng 540 kg này có thể lao đi với tốc độ tối đa 340 km/h.

1985: Xe đua F1 – Chiếc McLaren MP4/2B.

McLaren MP4/2B

Nửa sau thập kỷ 80 và những năm đầu thập kỷ 90, làng đua F1 chứng kiến sự thống trị của đội McLaren và động cơ Honda. Năm 1985, lần đầu tiên một tay đua người Pháp vô địch thế giới. Giống như Niki Lauda năm trước, Alain Prost cũng là thành viên của McLaren. Anh điều khiển chiếc MP4/2B.

1986: Xe đua F1 – McLaren MP4/2C

Alain Prost lặp lại thành tích, vẫn với xe McLaren trang bị động cơ turbo của hãng Porsche, cho dù thời điểm đó, đội Williams Honda thống trị về kỹ thuật. MP4/2C có vỏ composite, động cơ TAG V6, dung tích 1498 cc. Công suất ước tính hơn 1.000 mã lực, hộp số 5 cấp, nặng 540 kg.

McLaren MP4/2C

1987: Xe đua F1 – Williams FW11B

Williams FW11B

Nelson Piquet vô địch lần thứ 3, nhờ sự trợ giúp của người đồng đội Nigel Mansell, qua đó khẳng định ưu thế của xe Willams trang bị động cơ Honda. Chất liệu composite được ưa thích trong việc chế tạo vỏ xe. Với động cơ V6 do hãng Honda cung cấp, tổng dung tích 1.498 cc, chiếc xe có thể sinh ra một công suất 800-1.000 mã lực, phụ thuộc vào áp lực nén. Hộp số 6 cấp, trọng lượng tịnh của FW11B là 540 kg.

1988 – 1989: Xe đua F1 – McLaren MP4/4 và MP5/5

2 năm tiếp theo, chiến thắng đều thuộc về đội McLaren. Năm 1988, Ayrton Senna giành chiến thắng đầu tiên cho cá nhân mình. Quan hệ giữa anh và Alain Prost bắt đầu rạn nứt. Cho đến năm sau, khi tay đua người Pháp vượt qua sự ganh đua từ đồng đội, lần thứ ba vô địch thế giới thì mối bất hoà đã trở nên không thể cứu vãn. Kết thúc mùa giải, Prost chuyển sang đua cho đội Ferrari. McLaren có đối tác mới là Honda. Chiếc MP4/4 nhờ vậy được trang bị động cơ turbo V6 hãng xe Nhật Bản. Dung tích 1.500 cc, có 2 máy nén nhiên liệu. Công suất tối đa đạt 900 mã lực ở 12.500 vòng/phút. Trọng lượng tịnh của xe là 540 kg.

McLaren MP4/4
McLaren MP4/5

Sự cộng tác giữa McLaren và Honda tiếp tục phát huy hiệu quả. Xe MP4/5 lắp động cơ 10 xi-lanh, xếp góc chữ V 72 độ, dung tích 3.490 cc và đạt công suất 685 mã lực ở 13.000 vòng/phút. Tốc độ tối đa của xe là 329 km/h.

1990: Xe đua F1 – McLaren MP4/5B.

McLaren MP4/5B

Năm 1990, cuộc đua giành ngôi cao nhất diễn ra cho tới tận chặng đua cuối cùng giữa Ayrton Senna và Alain Prost, lúc này đã chuyển sang đội Ferrari. Cuối cùng, Senna đã chiến thắng trên chiếc xe McLaren lắp động cơ Honda V10, công suất 690 mã lực ở 13.000 vòng/ phút.

1991: Xe đua F1 – McLaren MP4/6

Tay đua người Brazil Ayrton Senna mang về thêm một danh hiệu cho McLaren dù cuối mùa giải, Williams mới là đội chiếm ưu thế. Xe có động cơ Honda V12, dung tích 3.499 cc, công suất tối đa 710 mã lực ở 13.000 vòng/phút. Hộp số 6 cấp, nặng 505 kg, tốc độ tối đa 331 km/h.

McLaren MP4/6

1992 – 1993: Xe đua F1 – Williams FW14B (1992) và FW15C (1993)

Những chiếc xe Williams có hệ thống treo chủ động đã giúp Nigel Mansell và Alain Prost vô địch các năm 1992 và 1993. Hãng Renault chịu trách nhiệm thiết kế toàn bộ và về nhất trong lần đầu tiên xếp hạng các đội đua.

Williams FW14B

Cả 2 xe đều trang bị động cơ V10, dung tích 3.493 cc, công suất cực đại 780 mã lực ở 14.300 vòng/phút. Hộp số bán tự động 6 cấp, trọng lượng 505 kg và tốc độ tối đa lên đến trên dưới 340 km/h.

Williams FW15C

1994: Xe đua F1 – Benetton B194

Benetton B194

Michael Schumacher vô địch cá nhân nhưng chính Renault mới là đội mạnh nhất, bất chấp Ayrton Senna qua đời tại đường đua Imola. Chiếc Benetton mang cấu trúc vỏ cứng liền chế tạo bằng composite. Xe trang bị động cơ Ford Zetec 8 xi-lanh, góc chữ V 75 độ, với tổng dung tích 3.494 cc và đạt công suất 730 mã lực ở 14.500 vòng/phút. Hộp số bán tự động 6 cấp, tốc độ tối đa 323 km/h.

1995: Xe đua F1 – Benetton B195.

1995 là năm thành công thứ hai liên tiếp của Michael Schumacher. Lần này, tay đua người Đức sử dụng chiếc xe Benetton được trang bị động cơ Renault V10, có dung tích 3.500 cc, trọng lượng 505 kg và đạt tốc độ tối đa 331 km/h.  

1996: Xe đua F1 – Williams FW18

Damon Hill là tay đua đầu tiên tiếp bước cha mình – Graham Hill – vô địch thế giới, với chiếc Williams gắn động cơ Renault, dung tích 3.000 cc, đạt công suất 745 mã lực ở 14.500 vòng/phút. Xe lắp hộp số bán tự động 6 cấp, trọng lượng 600 kg, chạy tối đa 351 km/h.

1997: Xe đua F1 – Williams FW19

Mới thi đấu tại các giải F1 mùa thứ hai, Jacques Villeneuve đã mang về thêm một chiến thắng cho đội Williams. Chiếc FW19 có vỏ cứng liền bằng composite, động cơ Renault RS8 V10, dung tích 3.000 cc, công suất 755 mã lực ở 14.600 vòng/phút, hộp số bán tự động 6 cấp.

Williams FW19
Xe đua F1 – Williams FW19

1998-1999: Xe đua F1 – McLaren MP4/13 (1998) và MP4/14 (1999)

Gia nhập đội ngũ những tay đua 2 lần vô địch thế giới trở lên, Mika Hakkinen đánh dấu sự trở lại ngày tháng huy hoàng của đội McLaren cũng như những chiếc xe được mệnh danh Mũi tên bạc. 

McLaren MP4/13

Cả 2 chiếc xe mà tay đua người Phần Lan sử dụng đều trang bị động cơ Mercedes V10, phun xăng điện tử, công suất cực đại lớn hơn 800 mã lực ở 14.300 vòng/phút. Hộp số bán tự động 6 cấp, trọng lượng 505 kg và có vận tốc tối đa trên 340 km/h.

McLaren MP4/14

Từ năm 2000-2004, Michael Schumacher bước vào giai đoạn thành công nhất trong sự nghiệp cũng như trong lịch sử F1 cùng Ferrari. Như vậy, từ 1979, đến nay đội đua đỏ mới tìm lại được ngôi vô địch.

2000: Xe đua F1 – Ferrari F1-2000

Schumi về nhất 9/17 chặng, bỏ cách Mika Hakkinen 19 điểm.

F1-2000: Được đưa vào sử dụng từ đầu mùa ở chặng Úc. Sử dụng động cơ V10 dung tích 2.997 cc, công xuất tối đa 770 mã lực, nhiên liệu do Shell cung cấp, lốp Bridgestone. Hộp số bán tự động. Kích thước: Dài 4,397m, rộng 1,795m, cao 95,9 cm, tổng trọng lượng khoảng 600kg.

2001-2002: Xe đua F1 – Ferrari F2001

Sang năm 2001, Ferrari thành công rực rỡ với 9 lần về nhất đều của M.Schumacher, bỏ cách David Coulthard của McLaren tới 58 điểm, Ferrari cũng bỏ cách McLaren tới 77 điểm.

Xe đua F1 Ferrari F2001
Xe đua F1 Ferrari F2001

Ferrari F2001 được sử dụng từ đầu mùa giải, Chiếc xe hầu như chỉ nâng cấp từ phiên bản F1-2000.

Năm 2002: Chiếc xe cũ F2001 vẫn được sử dụng cho đến hết chặng thứ 2, F2002 được thiết kế với những nâng cấp quan trọng: khung gầm mới, kết cấu mới; vỏ, hệ thống tản nhiệt, ống xả được tinh chỉnh tối ưu khí động học nhằm đạt được hiệu suất tối đa, hộp số làm từ titan…

Xe đua F1 Ferrari F2001 năm 2002

Và chính từ những nỗ lực đó, Ferrari có một mùa giải 2002 thành công nhất trong lịch sử: Nhất 15/17 chặng (Schumi 11 lần+ Barichello 4 lần), 10 Pole và 9 lần 1-2 podium.

2003-2003: Xe đua F1 – Ferrari F2003-GA

Năm 2003: Ngủ quên trên chiến thắng rực rỡ từ mùa trước suýt nữa đã khiến Ferrari phải trả giá, Michael Schumacher chỉ giành 93 điểm, hơn á quân Kimi Raikkonen vẻn vẹn 2 điểm, và bị Williams-BMW bán sát với 14 điểm kém hơn (dẽ dàng vượt mặt chỉ trong 1 chặng đua).

Xe đua F1 Ferrari F2003-GA
Xe đua F1 Ferrari F2003-GA

Chiếc xe cũ vẫn được sử dụng 4 chặng đầu tiên của mùa giải 2003, vì chiếc xe 2003-GA chưa thực sự hoàn thiện, mãi đến GP thứ 5 của mùa giải tại Tây Ban Nha (4-5) mới được đưa vào sử dụng.F2003-GA (được kèm thêm đuôi GA là để tưởng nhớ Gianni Agnelli, ông chủ hãng FIAT, hãng mẹ của Ferrari vừa mất 1 tháng trước đó): Chiếc xe cải thiện để kết hợp tối ưu hơn với bộ lốp Bridgestone.

Xe đua F1 Ferrari F2003-GA
Xe đua F1 Ferrari F2003-GA

Đến mùa giải 2004 Ferrari lại có một mùa giải rất thành công : nhất 15/18 chặng, trong đó có 2 lần về nhất của Barichello. Chiếc xe phát triển từ F2003-GA nhưng cải tiến về nhiều mặt.

Please follow and like us:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *